Xa lắm một mơ ước

Trong mục tiêu chiến lược của mình, Bộ Giáo dục và Đào tạo tham vọng đến năm 2020, Việt Nam có hai trường đại học (ĐH) đứng trong top 200 đại học hàng đầu thế giới. Không biết lãnh đạo ngành giáo dục ảo tưởng hay cả xã hội bị ảo tưởng? Vì theo kết quả xếp hạng các trường ĐH tốt nhất trên thế giới năm 2009 (ARWU) của Trường ĐH Giao thông Thượng Hải công bố, không thấy có tên Trường ĐH của Việt Nam nào trong top 500 (!).

Lâu nay, nhiều ý kiến phát biểu về giáo dục của các vị lãnh đạo từ trung ương đến địa phương đều nhắc lại câu nói của bậc tiền nhân: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Tuy nhiên, việc làm sao để có được những hiền tài, những nhân tài theo đúng nghĩa của nó thì vẫn còn là một vấn đề làm đau đầu các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục và cả xã hội.

3 đến 5 điểm cũng đỗ đại học

Sự xuống cấp nghiêm trọng nền giáo dục nước nhà trong thời gian qua đã được bàn nhiều, thông qua những ý kiến thẳng thắn, những tham luận đầy  trí tuệ của các nhà khoa học, nhà giáo dục nổi tiếng trong nước như GS Hoàng Tụy, GS Hồ Ngọc Đại… hay của những nhà khoa học Việt kiều tâm huyết ở nước ngoài.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, khi mới lên làm Bộ trưởng GD và ĐT, đã có những động thái, những phát biểu mạnh mẽ về công cuộc cải tổ ngành giáo dục, trong đó có giáo dục đại học. Đáng tiếc, đến bây giờ, khi ông đã rời nhiệm sở, theo sự phân công của cấp trên thì cái rõ nhất là ngoài việc có gần một trăm trường ĐH, cao đẳng mới được thành lập, hoặc nâng cấp (chủ yếu là ĐH dân lập, hoặc các trường cao đẳng, trung cấp nghề nâng cấp), vẫn chưa thấy một sự thay đổi nào đáng kể về cơ chế quản lý và chất lượng đào tạo.

Chất lượng đào tạo ĐH xuống cấp, chất lượng giảng viên cũng như sinh viên (từ đầu vào) suy giảm, thể hiện ở việc tuyển dụng tràn lan giảng viên và tuyển sinh ồ ạt sinh viên, quá chỉ tiêu quy định. Có những giáo viên dạy nghề sau khi trường nghề nâng cấp trở thành trường ĐH, thì nghiễm nhiên thành giảng viên ĐH (!).

Có những thí sinh thi 3 môn được 5 điểm cũng nghiễm nhiên trở thành sinh viên ĐH[2]. Rồi các hệ đào tạo tại chức (bây giờ đổi thành tên mới là “hệ vừa học vừa làm”), chuyên tu, văn bằng 2… ngành không kiểm soát nổi chất lượng cả đầu vào lẫn đầu ra. Câu nói của người xưa: “Thầy nào trò đấy” có lẽ phản ánh đúng thực trạng của nền giáo dục ĐH nước nhà chăng.

Hệ quả của giáo dục ĐH như thế, tất yếu sẽ phát sinh ra những sản phẩm không mong muốn. Nhiều giảng viên ĐH ở trạng thái làm thầy không được mà làm thợ cũng không xong, làm sao có thể tạo ra những lợi ích cho xã hội?

Tham vọng nhưng ảo tưởng

Đã thế, ngành giáo dục lại đặt mục tiêu thành lập 4 trường ĐH đẳng cấp quốc tế bằng nguồn kinh phí vay từ nước ngoài [3]. Bên cạnh đó còn có một số trường ĐH liên kết với các nước khác chuẩn bị ra đời. Trước đây, do có ý tưởng thành lập các “ĐH tầm cỡ” nhằm mục tiêu phát triển các trường ĐH xứng tầm châu lục và quốc tế nên ĐH Quốc gia Hà Nội và Đại học QG TP Hồ Chí Minh đã ra đời.

Tiếp đến một số ĐH khác được thành lập như ĐH Đà Nẵng, ĐH Huế…Mỗi một ĐH này bao gồm một số trường ĐH, cao đẳng hợp thành với mục tiêu đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực…Hơn chục năm trôi qua, qui mô, chất lượng và sản phẩm của các ĐH này như thế nào xã hội cũng không biết.

Và không biết việc xây dựng 4 trường ĐH đẳng cấp quốc tế của Bộ GD và ĐT có giống việc xây dựng các ĐH “tầm cỡ” như đã nói ở trên không? Tại sao ngành không đầu tư cho những trường ĐH hàng đầu hiện có trong nước? Chỉ biết rằng tiền vay nước ngoài rồi sẽ phải trả, và người dân lao động là những người phải nộp thuế để trả những khoản nợ này.

Cơ chế xin-cho trong quản lý đào tạo, trong nghiên cứu khoa học… của giáo dục ĐH Việt Nam quá lỗi thời nhưng không sao thay đổi được, vì thực chất, việc thay đổi sẽ đụng chạm đến lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân. Bên cạnh đó bệnh thành tích của những người quản lý giáo dục ĐH, của các trường ĐH, việc bổ nhiệm cán bộ quản lý giáo dục một cách phi học thuật… đẩy nền giáo dục ĐH của Việt Nam đến chỗ sa sút, hầu như không lối thoát.

Những nhược điểm đó đã được nêu trong báo cáo Harvard bao gồm hệ thống quản lý tập trung, chịu sự chỉ đạo từ trên xuống trong cả vấn đề tuyển sinh và trả lương cho giảng viên các trường ĐH. “Tham nhũng lan tràn và việc mua bán bằng cấp, học hàm, học vị là rất phổ biến. Các hệ thống nhân sự ĐH đều mù mờ và việc bổ nhiệm thường dựa trên những tiêu chuẩn phi học thuật như thâm niên, lý lịch gia đình và chính trị, và các mối quan hệ cá nhân” (Thomas J. Vallely và Ben Wilkinson)[4].

Trong mục tiêu chiến lược của mình, Bộ GD và ĐT tham vọng đến năm 2020, Việt Nam có 02 trường ĐH đứng trong top 200 ĐH hàng đầu thế giới[5]. Không biết lãnh đạo ngành giáo dục ảo tưởng hay cả xã hội bị ảo tưởng? Vì theo kết quả xếp hạng các trường ĐH tốt nhất trên thế giới năm 2009 (ARWU) của Trường ĐH Giao thông Thượng Hải công bố, không thấy có tên Trường ĐH của Việt Nam nào trong top 500 (!)

Điều đáng chú ý là trong top 200, chỉ có 22 trường ĐH ở châu Á[6]. Các trường này đều tập trung chủ yếu ở các nước như Nhật Bản, Australia, Israel. Thậm chí các nước phát triển như Hàn Quốc, Singapore hay Đài Loan chỉ đóng góp được một trường ĐH trong top 200 các trường ĐH hàng đầu thế giới.

Stt Tên trường Quốc gia Hạng Stt Tên trường Quốc gia Hạng
1 ĐH Tokyo Nhật Bản 20 12 Học viện công nghệ Technion-Israel Israel 115
2 ĐH Kyoto Nhật Bản 24 13 ĐH Tel Aviv Israel 116
3 ĐH Quốc gia Australia Australia 59 14 ĐH Queensland Australia 119
4 ĐH Hebrew tại Jerusalem Israel 64 15 ĐH Western Australia Australia 120
5 ĐH Osaka Nhật Bản 71 16 Học viện công nghệ Tokyo Nhật Bản 121
6 ĐH Melbourne Australia 75 17 ĐH Hokkaido Nhật Bản 158
7 ĐH Nagoya Nhật Bản 82 18 ĐH Kyushu Nhật Bản 161
8 ĐH Tohoku Nhật Bản 84 19 ĐH Quốc gia Seoul Hàn Quốc 166
9 ĐH Sydney Australia 94 20 ĐH New South Wales Australia 189
10 ĐH Quốc gia Đài Loan Đài Loan 110 21 ĐH Tsukuba Nhật Bản 195
11 ĐH Quốc gia Singapore Singapore 111 22 Học viện khoa học Weizmann Israel 200

Nguồn: ARWU, 2009

Lẽ nào lãnh đạo Bộ GD và ĐT cho rằng từ giờ đến năm 2020, các trường ĐH đẳng cấp quốc tế của Việt Nam còn đang hình thành trên giấy tờ có thể đuổi kịp các trường ĐH nổi tiếng trên thế giới với hàng chục, thậm chí hàng trăm năm lịch sử và kinh nghiệm?

Lẽ nào họ cho rằng chỉ có các trường ĐH ở Việt Nam phát triển, còn các trường ĐH khác không phát triển hay thụt lùi? Cách tư duy duy ý chí đó không thể tồn tại trong một xã hội có thông tin đa chiều. Việc phát triển một trường ĐH yêu cầu rất khắt khe cả về sự đầu tư tài chính, nhân lực…

Ai trả lời được câu hỏi này?

Philip G.Altbach, Giám đốc Trung tâm Giáo dục bậc cao quốc tế của Trường cao đẳng Boston nhận định rằng, phải mất một thời gian khá dài thì các trường ĐH ở châu Á mới có thể thực sự vươn dậy. Ông Philip cho rằng: “Không chỉ là cơ sở hạ tầng. Đó còn là văn hóa học thuật, là cách tổ chức nền giáo dục bậc cao”[7].

Ông Philip G. Altbach không nói rõ thời gian khá dài là bao nhiêu, nhưng thiết nghĩ những trường ĐH nổi tiếng của châu Á như ĐH Tokyo hay ĐH Quốc gia Australia chỉ được xếp hạng rất khiêm tốn trong top 200, thì không biết các trường ĐH ở Việt Nam đến bao giờ đứng được trong top 200 của châu Á, chứ đừng nói đến top 200 của thế giới.

Thật vậy, theo kết quả xếp hạng các ĐH châu Á 2010 do Tổ chức quốc tế Khảo sát chất lượng (Quacquarelli Symonds) thực hiện [8], trong số 200 ĐH hàng đầu của châu Á không có tên các trường ĐH của Việt Nam[9]. Trong 200 trường ĐH được xếp hạng này, có 26 trường thuộc khu vực Đông Nam Á (ASEAN), bao gồm các nước như Singapore, Indonesia, Philippines, Malaysia, Thái Lan, nhưng tuyệt nhiên không có một cái tên trường ĐH nào thuộc Việt Nam.

Stt Tên trường Quốc gia Hạng Stt Tên trường Quốc gia Hạng
1 ĐH Quốc gia Singapore Singapore 3 14 ĐH Gadjah Mada Indonesia 85
2 ĐH Công nghệ Nanyang Singapore 18 15 ĐH Thammasat Thái Lan 91
3 ĐH Mahidol Thái Lan 28 16 ĐH Prince of Songkla Thái Lan 102
4 ĐH Malaya Malaysia 42 17 ĐH Santo Tomas Philippines 103
5 ĐH Chulalongkorn Thái Lan 44 18 ĐH De La Salle Philippines 106
6 ĐH Indonesia Indonesia 50 19 ĐH Airlangga Indonesia 111
7 ĐH Kebangsaan Malaysia Malaysia 58 20 Học viện công nghệ Bandung Indonesia 114
8 ĐH Ateneo de Manila Philippines 60 21 ĐH Nông nghiệp Bogor Indonesia 119
9 ĐH Sains Malaysia Malaysia 69 22 ĐH Khon Kaen Thái Lan 122
10 ĐH Putra Malaysia Malaysia 77 23 ĐH Kasetsart Thái Lan 126
11 ĐH Philippines Philippines 78 24 ĐH quốc tế Islamic Malaysia Malaysia 158
12 ĐH Chiang Mai Thái Lan 79 25 ĐH Padjadjaran Indonesia 164
13 ĐH Công nghệ Malaysia Malaysia 82 26 ĐH Diponegoro Indonesia 167

Nguồn: Quacquarelli Symonds, 2010

Không hiểu khi đọc bảng danh sách này, những người lãnh đạo của ngành giáo dục sẽ nghĩ thế nào, và không biết cái mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có 2 trường ĐH của Việt Nam xếp trong top 200 thế giới có được cải chính không? Cũng không biết các trường ĐH Việt Nam đang đứng ở đâu trong bản đồ các trường ĐH thế giới và châu Á? Có ai trả lời được câu hỏi này không?

Trường Yên (Vietnamnet)

————————————–

[1]: http://vietnamnet.vn/giaoduc/chuyengiangduong/201001/Don-san-duong-doi-888407/

[2]: http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/Giao-duc/2009/01/3BA0A84C/

[3]: http://phapluattp.vn/269819p0c1019/se-xay-dung-4-truong-dai-hoc-dang-cap-quoc-te.htm

[4]. http://tuanvietnam.net/harvard-ban-ve-khung-hoang-giao-duc-dai-hoc-vn

[5]: http://www.vtc.vn/xahoi/giaoduc/2020-viet-nam-co-2-truong-dh-vao-top-200-the-gioi/201647/index.htm

[6]: http://www.arwu.org/ARWU2009.jsp

[7]: http://dantri.com.vn/c25/s25-361445/nhung-truong-dh-tot-nhat-the-gioi-nam-2009.htm

[8]: http://www.topuniversities.com

[9]: http://www.topuniversities.com/university-rankings/asian-university-rankings/overall

One Comment to “Xa lắm một mơ ước”

  1. bài viết này có xu hương tiêu cực ! nếu anh ko tin nó là sự thật thì nó sẽ ko là sự thật ! thử nhìn lại lịch sự cà trăm năm giữ nước cả Việt Nam ! có rất nhiếu lần người ta đánh giá mục tiêu của Viet Nam là vô vọng ! lấy ví dụ như 3 lần thắng quân Mông Nguyên ! mấy lần thắng Trung Quốc ! và lớn nhất là thắng đế quốc Mỹ Pháp ! ko thế nói là hoàn toan2 ko có cơ sở dc ! cá nhân em nghĩ vậy
    như mới đây thôi ! trong lĩnh vực giáo dục ! Giáo sư Ngô Bảo Châu đã dành giải thương Feld ! giải thưởng mà trong khu vực châu á chỉ có Nhât Bản là giành đc !
    đó chính là thước đó xứng đáng nhất cho trí tuệ Việt Nam ! tuy nhiên ko thế lấy đó là thước đo cho nền giáo dục đc ! nó chứng mình 1 phần là người Việt Nam hoàn toàn có khả năng giành đc những mục tiêu đả nhận ra ! nhưng những trở ngại do anh đặt ra làm cho nên giáo dục của chúng ta đi xuống !
    điều chúng ta cần làm là tìm ra giải pháp để vượt qua nhưng khó khăn đó ! chứ ko phải ngồi phê phán nó ! cũng ko có tác dụng !
    nhưng khách quan cũng có thế nói rằng ! những người như em và anh đây chắc ko có khả năng đặt ra chính sách hay kế hoạch ! chúng ta chi có thế góp ý kiến ! người có thế làm điều đó hiện tai là những người vạch đinh kê hoạch ở cáp trên ! chỉ hi vọng họ đủ sức đẩy lui những trở ngại kia mà thôi !
    cũng rất ủng hộ ý kiến cua anh về nhưng gì đã nếu ! nói thât thì nó hoàn toàn đúng !
    tới khi nào anh là nhà vạch định chính sách thì e se tin tương nó hơn ! nhân tài nước Việt còn khắp nới trên thế giới ! nếu chúng ta biết tập hơp họ lại thì nước nhà hoàn toàn có thể tiến lên đc 1 em tin tương điêu đó ! ko biết anh có lòng tin đó ko thôi …
    một sinh viên Truong Đại Học Kiến Trúc TP.HCM

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: